
Nguồn: Joshua Leifer, “The End of the U.S.-Israel Alliance”, Foreign Policy, 15/06/2026
Biên dịch: Viên Đăng Huy
Dường như Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu đã đạt được điều mà các vị tiền nhiệm của ông chỉ dám mơ ước: các chiến đấu cơ Mỹ và Israel sánh đôi trên bầu trời Tehran, còn các sĩ quan Israel thì thiết lập sở chỉ huy ngay tại trụ sở Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM) ở Florida. Kể từ thời David Ben-Gurion, các nhà lãnh đạo Israel luôn tìm kiếm sự bảo trợ từ siêu cường số một thế giới với hy vọng điều đó sẽ bảo chứng cho sự tồn tại lâu dài của quốc gia này. Chưa ai từng hình dung ra mức độ hợp tác sâu sắc như những gì đang diễn ra trước mắt. Nếu có thể đánh thức “Ông già” — cách người ta gọi Ben-Gurion — dậy từ giấc ngủ ngàn thu giữa vùng cát trắng Sde Boker, ông chắc chắn sẽ vô cùng hân hoan trước tin này.
Thế nhưng vẻ bề ngoài đôi khi lại là một cái bẫy thị giác. Ở một góc độ, mối quan hệ Mỹ – Israel đang ở trên đỉnh cao chói lọi. Nhưng nếu nhìn từ một lăng kính khác, nó đã bước vào giai đoạn suy thoái không thể cứu vãn. Các trụ cột chính trị, ý thức hệ và xã hội học vốn nâng đỡ cái gọi là liên minh đặc biệt suốt nửa thế kỷ qua đã bắt đầu sụp đổ. Khối liên minh vận động hành lang thân Israel — mạng lưới gồm các nhóm gây áp lực như Ủy ban Công vụ Israel tại Mỹ (AIPAC), các tổ chức cộng đồng Do Thái như Hội chống phỉ báng (ADL), và các nhóm Kitô giáo phục quốc như Tổ chức Kitô hữu thống nhất vì Israel — từng là một thế lực bất khả chiến bại tại Đồi Capitol. Giờ đây, trong bầu khí phân hóa cực đoan, khối này đã bắt đầu rạn nứt — ban đầu bị thách thức bởi cánh tả cấp tiến của Đảng Dân chủ và hiện tại là bởi làn sóng tân cô lập trong liên minh MAGA.
Cục diện dư luận đã đảo chiều một cách ngoạn mục. Chưa đầy một nửa người dân Mỹ giờ đây cho rằng ủng hộ Israel là phù hợp với lợi ích quốc gia; và lần đầu tiên trong lịch sử, người Mỹ dành nhiều thiện cảm cho người Palestine hơn là người Israel. Việc người Mỹ và người Israel chia sẻ chung một hệ giá trị văn hóa và tôn giáo cũng không còn là điều hiển nhiên. Trong khi nước Mỹ ngày càng giảm bớt tính Kitô giáo và trở nên đa dạng hơn, thì xã hội Israel lại chuyển mình theo hướng truyền thống cực đoan, với một nền văn hóa công chúng ngày càng khép kín. Ở cả hai cánh tả và cánh hữu của chính trường Mỹ, chủ nghĩa bài Do Thái đã bắt đầu len lỏi từ vùng rìa vào chính trị dòng chính — được một bộ phận ngày càng lớn, đặc biệt là giới trẻ và những người bất mãn, xem như một minh chứng cho tư cách phản kháng hệ thống của bản thân.
Những dịch chuyển này đã âm ỉ diễn ra từ lâu trước cuộc tấn công ngày 7/10/2023 của Hamas. Nhưng việc Israel san phẳng Gaza, phong tỏa và bỏ đói vùng đất kiệt quệ này, cùng bạo lực leo thang của những kẻ định cư tại vùng Bờ Tây bị chiếm đóng — tất cả được phát trực tiếp trên mạng xã hội suốt hơn hai năm qua — đã đẩy tiến trình đó đi với tốc độ chóng mặt. Nó tạo ra một làn sóng phản kháng Israel hiện hữu khắp nơi trong đời sống chính trị Mỹ đương đại. Nếu cuộc chiến của liên minh Mỹ – Israel chống lại Iran là đỉnh cao của mối liên minh đặc biệt này, thì chặng tiếp theo tất yếu sẽ là một cú ngã dài.
Mối liên minh đặc biệt này không phải lúc nào cũng đặc biệt. Dù Tổng thống Mỹ Harry Truman là người công nhận nhà nước Israel, người kế nhiệm ông là Dwight D. Eisenhower lại tỏ ra đặc biệt lạnh nhạt, vì e ngại điều đó sẽ làm đảo lộn các tính toán chiến lược của Mỹ trong giai đoạn đầu Chiến tranh Lạnh. John F. Kennedy là người phá vỡ lệnh cấm vận vũ khí thời Ike và trở thành tổng thống đầu tiên cấp khí tài Mỹ cho Israel; Richard Nixon — hay đúng hơn là cố vấn của ông, Henry Kissinger — đã giải cứu Israel vào năm 1973 bằng cách thiết lập cầu hàng không viện trợ quân sự sống còn, giúp đảo ngược thế cờ khi Israel cận kề thất bại trong cuộc chiến với Ả Rập. Dù vậy, mối quan hệ này vẫn có những giới hạn rõ ràng. Jimmy Carter, Ronald Reagan và George H.W. Bush đều biết cách nói không với các nhà lãnh đạo Israel — đôi khi bằng những tuyên bố đanh thép đến mức có thể gây sốc cho tiêu chuẩn ngày nay, đôi khi bằng những lời đe dọa cắt giảm lợi ích thực tế — và họ hầu như không e ngại khối vận động hành lang thân Israel, vốn vẫn chỉ là một nhóm nhỏ nhoi nếu so với quyền lực tối thượng mà khối này tích tụ được vào giữa thập niên 1990.
Hồi kết của Chiến tranh Lạnh đã đưa Mỹ và Israel vào một quỹ đạo gắn kết chặt chẽ hơn. Mối quan hệ này không còn bị kiềm chế bởi các tính toán rộng lớn hơn của Mỹ về cán cân quyền lực cường quốc toàn cầu. Tại đây đã hình thành cái mà các học giả quan hệ quốc tế gọi là “cộng đồng lợi ích chiến lược.” Israel đảm nhận vai trò lực lượng thực thi trật tự quốc tế mới do Mỹ dẫn dắt tại Trung Đông. Khi cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu bắt đầu, lợi ích của Mỹ và Israel dường như càng hòa làm một. Bằng những thuật ngữ được truyền thông Mỹ ngoan ngoãn lặp lại như một phản xạ, các nhà lãnh đạo Mỹ và Israel đã đồng nhất hóa lợi ích của hai nước, đồng thời khắc họa các đối thủ của họ — dù là Osama bin Laden và al-Qaeda hay Yasser Arafat và PLO — chỉ là hai mặt của cùng một đồng xu khủng bố cực đoan.
Sự đan xen về lợi ích chiến lược đó lại được củng cố bằng một niềm tin phổ quát về những giá trị chung. Ngay tại thời điểm Mỹ dấn bước vào chiến dịch thúc đẩy dân chủ ở nước ngoài, các nhà lãnh đạo Israel đã ca ngợi tính độc bản của quốc gia này như nước dân chủ duy nhất trong khu vực. Đối với những ai nhìn cuộc chiến chống khủng bố dưới lăng kính văn minh học, Israel là lá chắn tiền tuyến trong cuộc đối đầu giữa thế giới phương Tây gốc Kitô – Do Thái giáo và các thế lực Hồi giáo cực đoan. Trong khi đó, các học giả tiến bộ Mỹ lại có xu hướng nhìn nhận Israel như một hình mẫu của xã hội mở nằm giữa một biển các chế độ Ả Rập độc tài, các quốc gia thần quyền bảo thủ và các lực lượng dân quân Hồi giáo. Từ thời Bill Clinton đến George W. Bush, chính sách Trung Đông của Mỹ bị chi phối luân phiên bởi những người theo trường phái can thiệp cấp tiến xuyên Đại Tây Dương và những người anh em hung hăng hơn của họ — phái tân bảo thủ.
Đối với khối phức hợp vận động hành lang thân Israel đang lớn mạnh, đây là mảnh đất không thể thuận lợi hơn để thao túng. AIPAC có thể huy động sự ủng hộ gần như tuyệt đối cho Israel từ cả hai đảng, trong khi các tổ chức tư vấn đồng minh với họ thiết lập một cơ chế cửa xoay luân chuyển nhân sự qua lại giữa các chính quyền Cộng hòa và Dân chủ. Ở chiều ngược lại, những người đấu tranh cho quyền lợi của Palestine hoàn toàn thiếu vắng một bộ máy tương tự, và rất ít tác giả Palestine được xuất hiện trên các mặt báo dòng chính như ngày nay. Trong khi đó, những lời phàn nàn về quyền lực của nhóm lợi ích thân Israel hầu như chỉ bị gạt ra bên rìa thế giới của những thuyết âm mưu, nơi ranh giới giữa cánh cực tả và cực hữu bị xóa nhòa. Và khi văn hóa tưởng niệm Holocaust đạt đến đỉnh cao — Bảo tàng Tưởng niệm Holocaust Mỹ khánh thành năm 1993 — một cáo buộc bài Do Thái vẫn mang một sức nặng có thể chôn vùi sự nghiệp của bất kỳ ai.
Chính cánh hữu thân Israel, chứ không phải cánh tả thân Palestine, mới là bên đã đập tan sự đồng thuận lưỡng đảng tại Washington. Cột mốc mang tính bước ngoặt là năm 2015. Khi đó, cũng như bây giờ, tâm điểm của vấn đề chính là Iran. Khi chính quyền Obama nỗ lực thúc đẩy một thỏa thuận hạt nhân, khối áp lực thân Israel đã tuyên chiến với vị tổng thống rất được lòng các đảng viên Dân chủ này. AIPAC đã đổ khoảng 40 triệu đô la vào các chiến dịch vận động hành lang nhằm ngăn chặn thỏa thuận. Chủ tịch Hạ viện thuộc Đảng Cộng hòa John Boehner đã mời Netanyahu đến phát biểu trước phiên họp toàn thể quốc hội mà không thông báo trước cho tổng thống — một hành động bị coi là sự vi phạm quy trình mang tính chính trị hóa và chà đạp lên các phép tắc tối thiểu. Trên bục phát biểu, Netanyahu đã chỉ trích gay gắt thỏa thuận đang thành hình của chính quyền Obama, khẳng định nó “chỉ làm cho Trung Đông tồi tệ hơn.”
Chiến dịch tổng tấn công của khối vận động hành lang thân Israel đã thất bại trong việc ngăn chặn thỏa thuận hạt nhân. Thay vào đó, nó đã tự tay đập tan vỏ bọc đồng thuận lưỡng đảng còn sót lại của chính mình. Các nhóm ủng hộ Israel nhanh chóng vận động hành lang công khai như một nhánh của Đảng Cộng hòa, đặc biệt là khi các tổ chức cộng đồng Do Thái từ bỏ vỏ bọc đại diện cho đa số người Do Thái tại Mỹ để phục vụ cho các ưu tiên của những nhà tài trợ siêu giàu cánh hữu. Nhiệm kỳ đầu tiên của ông Trump càng làm sâu sắc thêm tiến trình phân cực đảng phái này đối với vấn đề Israel. Ông áp dụng một đường lối diều hâu thân Israel vượt xa bất kỳ chính quyền tiền nhiệm nào: đóng cửa văn phòng PLO tại Washington, dời Đại sứ quán Mỹ về Jerusalem, và công nhận chủ quyền của Israel đối với Cao nguyên Golan. Có thể nói, chính ông Trump là người đã đẩy các đảng viên Dân chủ bình thường ra xa Israel hơn bất kỳ nhà hoạt động ủng hộ Palestine nào.
Năm 2015 cũng đánh dấu một bước ngoặt trong đường hướng phát triển của Israel. Trải qua một chiến dịch tranh cử khốc liệt, Netanyahu dường như đã cực đoan hóa. Ông từ bỏ hình ảnh một chính trị gia điềm đạm của cánh hữu Israel để khoác lên mình phong cách của chủ nghĩa dân túy độc tài đang lên trên khắp thế giới. Nếu như trước đó Netanyahu từng đưa ra những tuyên bố mang tính đãi bôi về một giải pháp đàm phán với người Palestine, thì nay ông quay ngoắt sang chủ nghĩa mở rộng lãnh thổ tối đa công khai. Sau khi bị truy tố vì tội tham nhũng vào năm 2019, Netanyahu ngày càng trở nên liều lĩnh hơn trong các nỗ lực duy trì quyền lực. Ông thiết lập các liên minh bầu cử với những thế lực cực đoan nhất trong đời sống chính trị Israel — không chỉ hợp pháp hóa những kẻ ủng hộ giáo sĩ mang tư tưởng bán phát-xít Meir Kahane và những kẻ định cư cứu thế cực đoan, mà còn trao cho họ ghế bộ trưởng trong chính phủ của mình.
Đặt trong bối cảnh nền dân chủ bị thoái trào ngay trong lòng Israel, cùng sự siết chặt chiếm đóng ở Bờ Tây và cuộc bao vây Gaza, số lượng những người theo chủ nghĩa tự do ở Mỹ còn tin rằng mình chia sẻ chung giá trị với các đối tác Israel chỉ còn đếm trên đầu ngón tay. Trong khi đó, một thế hệ cấp tiến mới lớn lên và chỉ biết đến một Israel dưới thời Netanyahu. Thế hệ này đa dạng hơn bất kỳ thế hệ nào trước đó, với tỷ lệ lớn là con em của những người nhập cư từ Nam Á, Đông Nam Á và Trung Đông. Nhiều người trong số họ quay lưng với truyền thống chính trị thân Israel của Mỹ, có xu hướng nhìn Israel với ánh mắt thù địch, và không còn cảm thấy sự ràng buộc với cách diễn giải về Holocaust vốn là mỏ neo của văn hóa chính trị Mỹ. Một số lượng ngày càng đông các trí thức Do Thái trẻ tại Mỹ cũng bắt đầu thách thức quan điểm coi việc ủng hộ Israel là một trụ cột trong bản sắc Do Thái; một vài người trong số họ đã trở thành những thủ lĩnh biểu tượng của phong trào phản đối chủ nghĩa phục quốc Do Thái đang hồi sinh mạnh mẽ.
Cũng trong những năm này — giữa hai cột mốc về cái chết của Michael Brown ở Ferguson, Missouri, và George Floyd ở Minneapolis — cánh cấp tiến Mỹ đã trải qua một cuộc “thức tỉnh về sắc tộc” làm định hình lại sâu sắc nhận thức của họ về bản sắc và quyền lực, một sự dịch chuyển gây ra những hệ lụy lớn cho cuộc tranh luận về Israel ngay trong lòng cánh tả của Đảng Dân chủ. Vào năm 2016, rất lâu trước sự kiện ngày 7/10, Phong trào vì Mạng sống người Da màu (Movement for Black Lives) đã công bố cương lĩnh chính sách, trong đó dán nhãn các biện pháp của Israel đối với người Palestine là hành vi diệt chủng.
Gần đây hơn, một bộ phận thuộc cánh hữu MAGA cũng đã gia nhập cánh tả cấp tiến trong việc bác bỏ mối quan hệ Mỹ – Israel — tuy nhiên cơ sở lập luận phê phán của họ lại khác biệt. Vượt ra ngoài vũng lầy của những thuyết âm mưu bài Do Thái đang bủa vây một phần giới trẻ cánh hữu trên không gian mạng, những người định vị bản thân thuộc phái “kiềm chế” trong liên minh MAGA đã bắt đầu kêu gọi đánh giá lại sự ủng hộ của Mỹ dành cho Israel. Họ cáo buộc rằng không hề có, hoặc không còn có, một cộng đồng lợi ích chung giữa hai đồng minh, và rằng Israel cùng các thế lực ủng hộ đang nắm giữ quyền lực quá lớn và bất hợp lý đối với quá trình hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ. Họ ủng hộ việc cắt giảm thẳng tay các khoản viện trợ của Mỹ cho những cựu đồng minh — xem đây là bước đi đầu tiên trong lộ trình rút lui của Washington khỏi vai trò quản trị đế quốc — và khẳng định không có lý do gì mối quan hệ với Israel vẫn được coi là một ngoại lệ.
Nếu sự đồng thuận lưỡng đảng ủng hộ Israel cũ đã sụp đổ, thì một sự đồng thuận phản đối Israel mới đang hình thành ở các vùng rìa của cả hai đảng. Đối với Đảng Dân chủ, các cuộc bầu cử sơ bộ trước thềm năm 2028 gần như chắc chắn sẽ là một cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề Israel. Ngay từ lúc này, các nhà hoạt động đã đạt được những bước tiến lớn trong việc gây áp lực buộc các ứng cử viên phải giữ khoảng cách với AIPAC và các nhóm lợi ích thân Israel khác. Nếu như dịch vụ y tế toàn dân từng là khẩu hiệu của cuộc bầu cử sơ bộ năm 2020, thì việc đặt điều kiện — hoặc chấm dứt — viện trợ quân sự của Mỹ cho Israel nhiều khả năng sẽ đóng vai trò tương tự vào năm 2028. Ở cánh tả, sự thù địch với Israel — càng gay gắt càng tốt — đang nhanh chóng trở thành một bài kiểm tra tư cách để đánh giá mức độ tin cậy đối với các vấn đề tiến bộ khác.
Trong nội bộ Đảng Cộng hòa, cục diện sẽ phụ thuộc rất nhiều vào những dư chấn hậu cuộc chiến Iran. Nếu những tổn thất về kinh tế và ngoại giao mà người Mỹ phải gánh chịu kéo dài, Israel và các nhóm áp lực của họ sẽ phải giơ đầu chịu báng. Kịch bản đó nhiều khả năng sẽ tiếp thêm sức mạnh cho phái tân cô lập và kiềm chế — những người mà thủ lĩnh của họ, ít nhất là vào lúc này, chính là Phó Tổng thống J.D. Vance. Nhưng nếu ông nhúng chàm bởi thất bại từ cuộc chiến Iran, vẫn còn những nhân vật khác đang chờ sẵn trong cánh gà — bao gồm nhà bình luận bảo thủ Tucker Carlson, người mà tham vọng tổng thống hiện mới chỉ được đồn đoán. Ở cánh hữu, việc cắt giảm viện trợ quân sự cho Israel dù thế nào cũng sẽ trở thành một lập trường cơ bản mà phần lớn liên minh MAGA có thể đồng thuận.
Vậy thì tất cả những điều này sẽ đẩy Netanyahu về đâu? Vị Thủ tướng Israel đã bắt đầu xoay chuyển dư luận, tự khắc họa việc Mỹ cắt giảm viện trợ quân sự trong tương lai như một đề xuất do chính ông chủ động đưa ra — thay vì phải đối mặt với một cuộc chiến chính trị nhằm giành giật gói viện trợ mới, trận chiến mà Israel nắm chắc phần thua. Netanyahu đã cam kết sẽ giúp Israel thoát khỏi sự phụ thuộc vào viện trợ của Mỹ trong vòng một thập kỷ tới. Quỹ Di sản đã phác thảo một đề xuất cụ thể về cách thức vận hành của kế hoạch này — thay thế mô hình chiết khấu cho Israel khi mua khí tài Mỹ hiện nay bằng các dự án hợp tác công nghệ vũ khí chung, một giải pháp khó có thể coi là sự quay trở lại lệnh cấm vận vũ khí của thời kỳ đầu Chiến tranh Lạnh.
Tuy nhiên, Netanyahu có lẽ đã quá lạc quan về một tương lai của Israel sau khi mối liên minh đặc biệt chấm dứt. Bằng việc coi sự bảo trợ đó là điều hiển nhiên, ông có lẽ chính là người phải chịu trách nhiệm lớn nhất cho sự suy sụp nhanh chóng của nó. Khi ông rời khỏi vũ đài chính trị, di sản ông để lại sẽ là một Israel ở vị thế mong manh hơn bao giờ hết.
JOSHUA LEIFER là nhà bình luận của tờ Haaretz và là tác giả của cuốn Tablets Shattered: The End of an American Jewish Century and the Future of Jewish Life.
